360 độ khám phá lễ hội Việt Nam

le hoi dan gian viet namViệt Nam là một đất nước không sở hữu diện tích lớn nhưng lại chứa đựng một nền văn hóa độc đáo, đặc sắc từ chính hơn 65 dân tộc anh em sinh sống dọc khắp đất nước. Một phần vì lý do đó mà du lịch lễ hội Việt Nam cũng diễn ra cả năm, từ mùa xuân khởi đầu cho năm mới đến mùa đông khép lại một năm cũ nhiều dư vị. Dù diễn ra khắp trong bốn mùa xong mùa xuân vẫn là mùa diễn ra nhiều lễ hội nhất.

Các lễ hội tiêu biểu cho vùng, miền

Như đã đề cập ở trên Việt Nam có rất nhiều những lễ hội cổ truyền đa dạng, độc đáo ở khắp mọi vùng miền của đất nước. Tại mỗi vùng, mỗi lễ hội lại mang những nét tiêu biểu và giá trị khác nhau, dẫu vậy mục đích chung vẫn là hướng tới đối tượng tâm linh cần suy tôn.

Lễ hội truyền thống là dịp để con người giao lưu, truyền lại những đạo đức, luân lý về khát vọng cao đẹp; đồng thời nhắc lại nhiều câu chuyện về các đối tượng được suy tôn như những vị anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người có công chống thiên tai, diệt thú dữ, cứu nhân độ thế… hay những người có công truyền nghề.

Lễ hộ truyền thống giúp gột rửa những điều lo toan thường nhật, giúp con người tìm được sự thanh thản nơi chốn tâm linh. Và đó cũng là lý do các lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường thu hút rất đông người dân địa phương và du khách gần xa tham gia.

Điểm danh lễ hội tiêu biểu ở vùng Tây Bắc và Việt Bắc

1. Lễ hội Lồng Tồng

Là lễ hội truyền thống đặc trưng của cộng đồng người Tày, được tổ chức thường niên vào tháng Giêng, tháng Hai âm lịch theo từng địa phương. Lễ hội là dịp để bà con khắp nơi cầu phúc lộc, mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên, no ấm hạnh phúc. Nhiều trò chơi dân gian cổ truyền như ném còn, bịt mắt bắt dê, hát lượn… được tổ chức trong lễ hội này.

2. Lễ hội cầu an bản Mường

Là lễ hội truyền thống của bà con dân tộc Thái ở Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu và đồng bào dân tộc Mường. Lễ hội cầu an bản Mường là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc. Lễ hội thường được tổ chức vào cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai âm lịch hằng năm; được gắn với tục giết trâu và tạ thần linh thể hiện qua hình tượng thủy thần, thuồng luồng… Lễ hội có nhiều hoạt động liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần, tâm linh, mùa màng hay sức khỏe của cả cộng đồng trong năm diễn ra lễ hội.

3. Lễ hội hoa ban

 

lễ hội Việt NamHay còn được gọi là hội Xên bản, Xên mường – một lễ hội của đồng bào dân tộc Thái. Lễ hội được tổ chức vào mùa hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc, tức là vào dịp tháng Hai âm lịch. Lễ hội hoa ban được mệnh danh là ngày hội của tình yêu đôi lứa, ngày hội của hạnh phúc gia đình, hội cầu mùa màng tươi tốt, cuộc sống no ấm nơi bản mường, và cũng là dịp để bà con và du khách tham gia các trò chơi, thi tài, hát giao duyên trong những đêm trăng sáng.

Vùng châu thổ Bắc Bộ

1. Lễ hội chùa Hương

Lễ hội được kéo dài từ ngày mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng Ba âm lịch (ngày 15 tháng Hai là chính hội). Lễ hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội). Mảnh đất Hương Sơn theo tâm thức của người Việt xưa là là cõi Phật và chùa Hương chính là nơi thờ Phật Bà Quan Âm.

Lễ hội gồm 2 phần: phần lễ Phật và phần hội là sự có mặt của người hành hương về đất Phật. Bên cạnh việc chiêm bái, du khách đến đây có cơ hội ngắm cảnh núi non, hang động và cầu may, cầu phúc tại các ngôi chùa… Theo ghi chép thì lễ hội chùa Hương được biết đến là lễ hội có thời gian mở hội dài nhất so với các lễ hội khác ở nước ta.

2. Lễ hội đền Hùng

Đền Hùng tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, là nơi diễn ra lễ hội trọng đại hàng năm, mang tính chất quốc gia để suy tôn các vua Hùng đã có công dựng nước. Lễ hội lớn của dân tộc được kéo dài từ ngày mùng 8 đến 11 tháng Ba âm lịch và là lúc để toàn dân hướng về cội nguồn.

Việc tế lễ được tổ chức trọng thể vào ngày 10 tháng Ba, tức là ngày chính hội với các lễ vật dâng cúng là “lễ tam sinh” (một con lợn, một con dê và một con bò), bánh chưng, bánh dày và mâm xôi to nhiều màu. Quá trình tế lễ được diễn ra sau khi một hồi trống vang lên theo đúng quy trình: các chức sắc vào tế lễ rồi đến các vị bô lão của các làng, xã sở tại quanh đền Hùng rồi mới đến là nhân dân và du khách hành hương.

Phần hội trong lễ hội đền Hùng thường năm nào cũng tổ chức cuộc thi kiệu của các làng quanh khu vực đền. Các đám rước kiệu sẽ có ba cỗ kiệu đi liền nhau: Cỗ kiệu đi đầu bày hương hoa, đèn, nhang, trầu cau, chỏe nước và bầu rượu; Cỗ kiệu thứ hai đặt hương án, bài vị của thánh, có lộng và quạt với nhiều màu sắc trang hoàng tôn nghiêm; còn Cỗ thứ ba thì rước bánh chưng và bánh dày, một chiếc đầu lợn luộc để nguyên.

Trong lễ hội đền Hùng có tiến hành nghi lễ hát thờ quan trọng (tục gọi là hát Xoan). Dân gian truyền rằng, xưa kia hát Xoan còn gọi là hát Xuân, điệu múa hát Xoan thì đã có từ thời Hùng Vương và lưu truyền rộng rãi trong các làng, xã quanh vùng.

3. Lễ hội Gióng

Diễn ra tại làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, lễ hội Gióng được cho là một trong những lễ hội lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Lễ hội là dịp để tưởng nhớ người anh hùng Thánh Gióng đã có công đánh giặc cứu nước.

Ngày hội hội là ngày 9 tháng Tư âm lịch hàng năm – chính là ngày ông Gióng đánh thắng giặc Ân. Trong ngày này sẽ có lễ rước từ đền Mẫu đến đền Thượng với các hoạt động múa hát thờ, hội trận (diễn lại trận đánh thắng giặc Ân xa xưa). Mồng 10-4 là ngày vãn hội, sẽ tổ chức làm lễ duyệt quân và lễ tạ ơn Thánh Gióng.

4. Lễ hội gò Đống Đa

 

05. Hội Gò Đống ĐaLễ hội được tổ chức tại gò Đống Đa (quận Đống Đa, Hà Nội) vào ngày mùng 5 Tết Nguyên đán hàng năm. Đây là lễ hội chiến thắng được tổ chức để tưởng nhớ tới chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung – người anh hùng áo vải trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Lễ hội được tổ chức từ sáng sớm ngày mùng 5 Tết, sau khi những hội trống, chiêng báo hiệu vang lên để bắt đầu cuộc rước thần chiến thắng từ đình làng Khương Thượng về gò Đống Đa. Thanh niên các làng tham gia lễ rước sẽ ăn mặc theo lễ phục hội, đi sau là cờ, lộng, kiệu… Phía cuối đoàn rước là hình tượng “con rồng lửa” được kết bằng rơm.

Sau phần nghi lễ là các trò chơi dân gian vui khỏe, đua sức đấu tài như: Múa rồng, múa lân, đấu vật, chơi cờ, chọi gà…

Những lễ hội tiêu biểu ở vùng Trung bộ

1. Lễ hội cầu Ngư

Là lễ hội của nhân dân làng Thái Dương hạ (thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế), được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Ba năm một lần làng lại tổ chức đại lễ rất linh đình.

Lễ hội để tưởng nhớ Trương Quý Công (biệt danh là Trương Thiều) – vị thành hoàng của làng. Ông là người gốc Thanh Hoá, đã có công dạy cho dân nghèo cách đánh cá và buôn bán ghe mành.

Lễ hội cầu Ngư có các trò chơi mô tả cảnh sinh hoạt của nghề đánh cá, đặc sắc là hình ảnh “bủa lưới” mang ý nghĩa trình nghề, khắc họa đậm nét nghi lễ dân gian của cư dân vùng ven biển.

2. Lễ hội Lam Kinh

Diễn ra tại khu di tích Lam Kinh (thuộc địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), mảnh đất quê hương của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và nhiều danh tướng nổi tiếng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Địa danh Lam Kinh còn là khu di tích có quy mô lớn về các đời vua, hoàng tộc của thời nhà hậu Lê và các danh tướng đương thời.

Vào ngày 22 tháng 8 âm lịch hàng năm, nhân dân các vùng ở miền Bắc nô nức kéo về điện Lam Kinh để dự lễ tưởng niệm Lê Lợi và các danh tướng nhà Lê – những người đã có công lao đánh tan giặc Minh xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, và xây dựng đất nước.

Trong lễ hội, phần nghi thức rước kiệu từ lăng vua Lê Thái Tổ về đền thờ được tổ chức rất trang trọng, uy nghiêm. Kết thúc phần lễ dâng hương tưởng niệm, du khách sẽ có dịp tham quan quần thể di tích Lam Kinh, xem các điệu múa như múa Xuân Phả hay chơi các trò chơi dân gian truyền thống như Bình Ngô phá trận…

3. Lễ hội Dinh Thầy – Thím

Từ lâu, lễ hội này đã trở thành nét văn hóa đặc sắc riêng biệt của tỉnh Bình Thuận. Vào ngày 14 đến 16 tháng 9 âm lịch hàng năm, ngay chính tại khu di tích lịch sử – văn hóa Dinh Thầy – Thím (xã Tân Tiến, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận) lại diễn ra lễ hội lớn nhân ngày giỗ của Thầy – Thím.

Vào dịp lễ hội, đông đảo người dân địa phương và du khách đến cầu nguyện sức khỏe, hạnh phúc cho gia đình, họ hàng và công việc làm ăn hanh thông. Ngoài các nghi lễ xưa vẫn được bảo tồn, trong phần hội còn có nhiều trò chơi dân gian thu hút như: chèo Bả Trạo, diễn xướng tích Thầy, biểu diễn võ thuật, thi lắc thúng, gánh cá đi bộ, múa rồng… tạo nên không khí lễ hội sôi động.

4. Lễ hội Katê

Là lễ hội lớn nhất, đông vui nhất của tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, nơi có đông đảo đồng bào dân tộc Chăm sinh sống. Được tổ chức tại tháp Poklong Garai hoặc các tháp Chàm khác, lễ hội Katê (tên khác là lễ tưởng niệm đấng cha) diễn ra vào ngày 1-7 Chăm lịch (khoảng từ 25-9 đến 5-10 dương lịch) hàng năm.

Lễ hội Katê để tưởng niệm các vị anh hùng dân tộc, tổ tiên, ông bà, thần linh cùng các vua Pôklông Garai, vua Prôme. Trong thời gian diễn ra lễ hội, nhân dân các vùng lân cận sẽ tụ tập lên tháp làm lễ đơn giản.

Các thầy cúng sẽ tiến hành lễ cúng tế ở ngoài sân sau khi các thầy coi về đạo giáo. Sau đó thì du khách vào tháp, tận mắt chứng kiến bà bóng và thầy cúng tắm rửa, thay áo cho vua Poklong Garai (tượng đá), đọc kinh và hát những bài hát dân ca. Nghi lễ này được kết thúc bằng điệu múa thiêng liêng của bà bóng trong tháp.

Những lễ hội tiêu biểu ở vùng Tây nguyên và Nam bộ

1. Lễ cơm mới

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên, thần lúa là được tôn trọng không kém các thần khác. Sau khi thu hoạch hàng năm, người ta tổ chức lễ ăn cơm mới, để tạ ơn thần, và thể hiện sự vui mừng chung hưởng kết quả của một quá trình mệt nhọc.

Lễ mừng thu hoạch của người Mạ là lễ hội lớn nhất trong năm và thường kéo dài 7 ngày. Lễ ăn cơm mới của người Bana chỉ diễn ra trong ba ngày, khi đã bắt đầu thu hoạch. Và lễ Sơmắh Kek diễn ra khi gặt lúa đại trà. Cuối cùng là lễ đóng cửa kho.

2. Hội đua voi

Được tổ chức hằng năm vào tháng Ba âm lịch, hội diễn ra ở Buôn Đôn hoặc ở những cánh rừng thưa nằm ven dòng sông Sêvepốc.
Trước khi vào cuộc đua, một tiếng tù và cất lên, từng tốp voi được nhưng người quản tượng điều khiển đứng vào vị trí xuất phát. Khi có lệnh xuất phát, những chú voi sẽ thi nhau phóng về phía trước trong tiếng chiêng, trống, hò reo cổ vũ vang cả núi rừng.

3. Lễ hội đâm trâu

Là lễ hội khá phổ biến của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên và ở phía Bắc của vùng Đông Nam bộ. Lễ đâm trâu diễn ra vào lúc nông nhàn (khi mọi người nghỉ ngơi để chuẩn bị cho một mùa rẫy mới), tức vào khoảng tháng Ba hoặc tháng Tư âm lịch. Đối với đồng bào các dân tộc ở tây Nguyên, con trâu thường được sử dụng làm vật tế thần linh bởi chúng biểu tượng cho sự phồn thịnh. Thịt trâu được người dân trong buôn chia nhau để ăn mừng.

Sau các nghi thức cúng thần linh, con trâu được dắt ra cột ở gốc cây nêu giữa sân. Tất cả già, trẻ, trai gái trong bản cùng nhảy múa trong tiếng nhạc của cồng, chiêng. Sau đó, một đội đâm trâu được trang bị giáo mác và đều là những chàng trai trẻ, sẽ vào sân để bắt đầu tiến hành đâm trâu.

4. Lễ hội Dinh Cô

Là một khu đền có kiến trúc khá hoành tráng nằm hai bên bờ biển Long Hải (thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Đây là nơi thờ một cô gái giàu lòng nhân ái, bị nạn sau một lần đi biển. Hàng năm, lễ hội Dinh Cô kéo dài 2 ngày từ 10 đến 12 tháng Hai âm lịch, được ngư dân Long Hải tổ chức theo nghi thức cổ truyền.

Các vị cao niên (chủ lễ) thường mặc lễ phục trang nghiêm và có những lời cầu nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Sau đó, bắt đầu lễ nghinh Cô ngoài biển với những thuyền hoa lộng lẫy.

5. Lễ hội Bà Chúa Xứ

Là lễ hội dân gian lớn nhất ở Nam Bộ. Lễ hội được tổ chức từ đêm ngày 23 đến 27 tháng Tư âm lịch hàng năm. Trong những ngày lễ diễn ra tại miếu Bà Chúa xứ ở núi Sam (tỉnh An Giang), nhiều hoạt động văn hóa như múa bóng, hát bội diễn ra.

Đêm ngày 23, nghi thức tắm Bà diễn ra thu hút đông đảo người xem. Sau đó tượng Bà được đưa xuống và dùng nước mưa pha với nước hoa để tắm. Lễ vía Bà hàng năm thu hút du khách thập phương đến tham dự lễ hội dân gian, cầu tài lộc, và cũng là dịp chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp ở núi Sam và các di tích lịch sử xung quanh như: Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An…

6. Lễ hội Ok Om Bok

Lễ hội có tên khác là lễ cúng Trăng của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ, được tổ chức vào đúng hôm rằm và được bắt đầu từ khi trăng lên.

Xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, mặt trăng được biết là thần bảo vệ mùa màng, nên người Khmer thường tổ chức lễ hội Ok Om Bok vào ngày rằm tháng 10 âm lịch hằng năm như để cảm ơn các vị thần đã cho mưa thuận, gió hòa và mùa bội thu… Theo phong tục của người Khmer, sau lễ cúng Trăng sẽ là hội đua nge ngo, thu hút hàng chục vạn người tham gia hưởng ứng.

53. Lễ ok om bok



Danh mục: Đi và chia sẻ

Tác giả TÀI LIỆU QUÝ. COM

Cộng đồng Blog TailieuQuy.com là những thầy cô giáo giỏi muốn chia sẻ những kinh nghiệm học và truyền cảm hứng nhằm phổ biến các tài liệu quý, các chuyên môn tới nhiều người hơn, giúp thay đổi cuộc sống của mọi người...

Mục ý kiến, bình luận:

P/S: Email của bạn được bảo vệ. Chúng tôi nói không với spam. Khi ý kiến, bình luận của bạn được trả lời bạn sẽ nhận được thông báo qua email để bạn tiện theo dõi. Xin cảm ơn!

P/S: Email của bạn được bảo vệ. Chúng tôi nói không với spam. Khi ý kiến, bình luận của bạn được trả lời bạn sẽ nhận được thông báo qua email để bạn tiện theo dõi. Xin cảm ơn!